I. Các kỹ thuật xạ trị:
Xạ trị là việc sử dụng phóng xạ trong điều trị khối u bằng cách đưa một liều phóng xạ rất chính xác tới một thể tích bia (khối u) đã xác định trước với tổn thương nhỏ nhất cho các mô lành xung quanh nhằm loại trừ bệnh tật, kéo dài sự sống hay cải thiện chất lượng cuộc sống.

1.1 Tổng quan về các kỹ thuật xạ trị:
Kỹ thuật xạ trị đã được áp dụng ngay từ rất sớm khi mới phát hiện ra tia X và dần dần cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay hơn 50 % số bệnh đã được điều trị bằng phóng xạ trong đó chủ yếu là điều trị ung thư.

1.2 Phân loại các kỹ thuật xạ trị:
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại các phương pháp xạ trị song về cơ bản nhất người ta thường phân chia các phương pháp xạ trị theo cách bố trí nguồn và cách điều trị. Trên cơ sở đó người ta chia xạ trị ra thành 3 phương pháp cơ bản đó là:

a) Xạ trị bằng chùm tia ngoài:
Là việc sử dụng các chùm tia ngoài mang năng lượng cao cỡ KeV hay thậm trí MeV chẳng hạn như tia X mang năng lượng 50-300KeV, chùm tia gamma tạo từ máy cobalt-60, các loại chùm hạt khác được gia tốc bởi máy gia tốc để bắn phá tiêu diệt khối u.

b) Xạ trị bằng nguồn phóng xạ kín:
Là kỹ thuật điều trị khối u bằng cách đưa một liều phóng xạ rất cục bộ vào chính xác bên trong khối u. Kỹ thuật này hạn chế tối đa tác hại của phóng xạ tới các mô lành bao quanh khối u vì thế nó được sử dụng khá thông dụng song nó có nhược điểm là rất khó áp dụng đối với các khối u có kích thước nhỏ. Trong kỹ thuật xạ trị bằng nguồn phóng xạ kín thì xạ trị áp sát được sử dụng khá phổ biến (gồm xạ trị áp sát liều thấp và xạ trị áp sát liều cao)


c) Tia xạ chuyển hóa, kết hợp chọn lọc:
Uống hoặc tiêm các chất đồng vị phóng xạ (131I, 32P, 198Au) hoặc kháng thể đặc hiệu có gắn đồng vị phóng xạ để diệt tế bào ung thư trong quá trình chuyển hóa và kết hợp có chọn lọc.

2. Các hệ thống và thiết bị xạ trị thường sử dụng hiện nay:
2.1 Tổng quan:
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật các thiết bị xạ trị và nguồn dùng trong xạ trị cũng không ngừng được cải tiến.Nguồn dùng trong xạ trị chủ yếu là các đồng vị phóng xạ của các nguyên tố phóng xạ. Chúng được bảo quản rất kỹ lưỡng và cẩn thận trong vỏ nguồn.Việc chiếu xạ đòi hỏi rất chính xác về liều lượng cũng như vị trí chiếu vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của bệnh nhân chính vì vậy các thiết bị xạ trị đòi hỏi trên hết tính chính xác, an toàn.Sau đây là những thông số cũng như tính năng cơ bản của một số nguồn cũng như thiết bị thông dụng hay sử dụng trong xạ trị và một số thiết bị xạ trị hàng đầu thế giới hiện nay (gamma knife)

2.2 Các loại nguồn phóng xạ hay sử dụng hiện nay:
Dựa trên tiêu chí đánh giá là chu kỳ bán rã, độ hoạt động của tia xạ phát ra mà hiện nay trên thế giới chủ yếu sử dụng các loại nguồn :cobalt 60,Cesium,Iridium 192,Iodine 125,Palladium 103.
Trong các loại nguồn trên thì nguồn Cobalt 60 được dùng sớm nhất và phổ biến hơn cả.

a. Cobalt 60:

Được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới. Cobalt-60 có hằng số air-kerma lớn nhất so với các nguồn xạ trị khác thời gian sống của nó lại ngắn nên thường không được sử dụng để cấy cố định.
Cobalt 60 thường được dùng làm nguồn phát tia xạ trong xạ trị áp sát, dùng cho các loại thiết bị HDR (height dose rate) và cả LDR (Low dose rate).

b. Cesium(Cesium-137):




Chu kỳ bán rã dài (30 năm ), năng lượng trung bình cỡ 0.66 MeV đơn năng, thường sử dụng để điều trị ung thư phụ khoa.Có thể được thay thế bởi nguồn Iridium-192.

c. Strotium-90:
Dùng cho xạ trị mạch máu hay sử dụng trong các applicator để điều trị mắt. Họat độ phóng xạ trong applicator từ 10mCi tới 50mCi đường kính nằm trong dải từ 12mm đến 18mm.

d. Iridium-192



Dùng trong xạ trị áp sát bằng tay, chu kỳ bán rã vừa phải(73.83 ngày), phổ năng lượng tia gamma phức tạp(trung bình 38 MeV), hoạt độ riêng cao(450Ci/g)

e. Iodine-125:



Chu kỳ bán rã trung bình 59.4 ngày, tạo tia gamma năng lượng thấp và tia X năng lượng nhỏ hơn 0.0355 MeV. Sử dụng để điều trị các khối u nông.
Có thể dùng để điều trị nhiễm độc tuyến giáp.

f. Palladium-103

Chu kỳ bán rã ngắn 16.97 ngày, tạo tia X năng lượng từ 20 keV đến 23 keV, hoạt độ nguồn : 5 mCi. Được dùng để cấy cố định thay thế Iodine-125 khi điều trị các tổ chức ung thư phát triển nhanh.

2.3 Một số máy xạ trị hay sử dụng hiện nay:
1. Mini rad:

Có khả năng điều trị cho nhiều bệnh nhân cùng lúc với 14 ngăn chứa phóng xạ, dùng cho điều trị áp sát liều thấp.
Chất phóng xạ được lập trình cho quá trình điều trị, nó sẽ tự động ngưng kết nối tới cơ thể bệnh nhân khi quá trình điều trị kết thúc.

2. Selectron-LDR



Để chiếu xạ liên tục và kiểm tra bệnh nhân.
Gồm 6 kênh truyền, 48 ống chứa nguồn phóng xạ 137 Cs với hoạt độ từ 370 MBq đến 1.48 GBqb được dịch chuyển do tác động của áp xuất khí nén.
Được điều khiển bằng vi điều khiển tới các vị trí khác nhau của cơ thể.

3. MicroSelectron HDR



Sử dụng nguồn Iridium-192 được chế tạo thành viên con nhộng có đường kính 3.5mm, dài 6mm, được bảo vệ bởi một lớp thép sạch có kích thước dài 9mm đường kính 5mm và được hàn mềm với 49 sợi dây mảnh bằng công nghệ laser.
Các viên con nhộng có độ cong nhỏ nhất là 1.5cm và được chuyển động dưới tác động của áp lực khí. Nguồn chứa chất phóng xạ có thể dịch chuyển sát đến applicator với khoảng cách 120mm. Nguồn có thể được đưa ra cách xa máy 1500mm. Nguồn phóng xạ chuyển động với chu kỳ bước là 0.1s/bước. Nguồn có thể được đặt ở 18 vị trí với độ chia 2.5mm hay 48 vị trí với độ chia 5mm. Do cấu tạo như vậy nên Microselectron HDR rất tiện lợi cho việc thay đổi vị trí chiếu xạ ở nhiều góc độ khác nhau ứng với các vị trí nhiễm bệnh khác nhau của cơ thể.

4. Gamma med plus
Sử dụng nguồn Iridium-192 dạng hình viên dài 3.5cm đường kính 0.6mm được bao bọc bởi thép sạch dài 4.5cm đường kính 0.9mm.
Có 24 kênh điều trị và có thể tăng lên 36 kênh điều trị với sự hồ trợ của phần mềm.

5. VariSource:
Có khả năng sử dụng một lượng phóng xạ rất nhỏ với nguồn phóng xạ dạng viên dài 10mm đường kính 0.59mm có thể được đưa qua ống thông đường tiểu có đường kính 0.9mm.
Thường được sử dụng trong xạ trị áp sát.

6. Gamma knife:



Là thiết bị sử dụng để tiêu diệt các khổi u cũng như các tổ chức ung thư kín nằm ở vị trí khó phẫu thuật hay không thể phẫu thuật. Bằng công nghệ tạo ảnh kỹ thuật cao có thể xác định chính xác vị trí của tổ chức cần tiều diệt từ đó chiếu xạ theo các hướng khác nhau vào vị trí khối u cùng một lúc với liều lượng nhất định nằm trong giới hạn chịu đựng của các mô mềm xung quanh để tiêu diệt hoàn toàn khối u. Đây là một phương pháp mổ an toàn không để lại vết sẹo nào, làm cho bệnh nhân chóng bình phục ở giai đoạn hậu phẫu.
Gamma knife là một hệ thống phức tạp kết hợp giữa điều khiển cơ khí và điều khiển chiếu xạ chính xác. Hệ thống gồm một giường chứa bệnh nhân có thể chuyển động được và một cơ cấu chiếu xạ có thể chuyển động theo mọi hướng. Chùm chiếu xạ là kết hợp của rất nhiều các các chùm hình bút chì mảnh ở các vị trí khác nhau cùng chiếu đồng thời vào vị trí khối u nhằm tạo hiệu ứng cộng hưởng tiêu diệt khối u.

Hiện nay gamma knife đã được áp dụng khá phổ biến trên thế giới song giá thành cho mỗi cuộc phẫu thuật còn cao. ở Việt Nam bệnh viện chợ Rẫy đã có dao mổ tia X có thể tiêu diệt khối u có đường kính lên tới 3.5cm. Giá thành trung bình cho mỗi ca phẫu thuật bằng dao mổ gamma ở Việt Nam ước tính khoảng 56 triệu.


Best Regards.
REP03.03.FFG.20061104


Đây là các REPORT do nhóm FFG tổng hợp và viết lên. Do kiến thức còn hạn chế ( tất cả các thành viên đều khoá 47 ĐTYS ) cộng với kinh nghiệm thực tế còn hạn hẹp do đó rất khó có thể tránh được những sai sót hoặc hạn chế. Rất mong được các anh chị, các bạn cùng đòng gớp ý kiến để cho bài viết hoàn thiện và tốt hơn nữa, để VBEG có những bài viết mang tính chiều sâu về kỹ thuật công nghệ. Xin chân thành cám ơn